Ian Brodie Rated 5 / 5 based on 5 reviews

Lịch sử ra đời của đồng hồ Lặn (phần 1)

An Hi BY An Hi
0
comments
5 tháng trước

(Tudiendongho.vn) - Trong bài viết dưới đây, Từ điển Đồng hồ sẽ cùng bạn tìm hiểu lịch sử ra đời của đồng hồ lặn

Diễn Đàn Từ điển đồng hồ

Lịch sử của đồng hồ kháng nước bắt đầu vào những năm 1920, nhưng cho đến sau đó, chiếc đồng hồ lặn độc đáo đã xuất hiện. Ngày nay đồng hồ lặn là loại phổ biến nhất đối với người chơi thể thao, không nhất thiết vì người ta sử dụng chúng để lặn, mà còn vì phong cách, độ bền và giá trị thực tế.

js-watch-co-advertisement

Lịch sử của đồng hồ kháng nức thực sự bắt đầu vào những năm 1920

Những chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên của nam giới được tạo ra từ những chiếc đồng hồ bỏ túi. Tuy nhiên, đồng hồ đeo tay được coi là đồ trang sức nữ giới cần được cất giữ cẩn thận. Do đó, nam giới không thực sự quan tâm đến những kiểu dáng ban đầu của những chiếc đồng hồ này.

Rõ ràng là đồng hồ đeo tay sẽ không bao giờ trở nên phổ biến trừ phi những vấn đề này đã được giải quyết tốt. Trong số các vấn đề cần khắc phục đầu tiên là nước, độ ẩm và bụi. Tất cả đều dễ dàng xâm nhập vào bên trong chiếc đồng hồ. Chúng sẽ khiến cho các bộ phận bị gỉ, làm cho chất bôi trơn không hoạt động và cuối cùng bánh răng ngày càng khó khăn trong việc chuyển động.

Vì vậy, nếu đồng hồ được đeo trên cổ tay thì những yếu tố này sẽ tăng cao – đo đó trước hết phải có một số thay đổi đáng kể được thực hiện như quan tâm hơn đến quy trình sản xuất, lắp ráp.

Rolex-Hermetic-Submarine-

Rolex Hermetic (hay Submarine)

Bước đầu tiên là phải nhận ra nguồn gốc của vấn đề và sau đó tìm kiếm giải pháp loại trừ vĩnh viễn chúng. Thế kỷ 20, những chiếc đồng hồ bỏ túi không được chế tác với mức kháng nước và độ bền làm trọng tâm. Những người thợ chế tác đã ấp ủ qua một thời gian dài nghiên cứu để tạo nên những chiếc đồng hồ đeo tay như ngày nay, khắc phục được nhược điểm từ kiểu chế tác thời kỳ cũ..

Mở đầu cho việc sáng tạo ra đồng hồ đeo tay ngày nay là một trong các thương hiệu đồng hồ Thụy Sỹ nổi tiếng – Rolex với người sáng lập là Hans Wilsdorf. Một ví dụ tuyệt vời là mẫu đồng hồ Rolex Hermetic hoặc Submarine được tạo ra vào năm 1922. Hermetic là mẫu đồng hồ với vỏ tròn nhỏ, với lớp vỏ mỏng bên ngoài bao quanh được cố định. Ý nghĩa của việc làm này là hệ thống nút vặn bị bít kín và đồng hồ được bao phủ toàn bộ.

Nhưng có một vấn đề phát sinh ở đây, là khi cần điều chỉnh kim đồng hồ phải loại bỏ phần nắp đậy và sau đó đóng lại. Việc sử dụng thường xuyên phải tác động lên các rãnh ở một bên của nắp đúc và đây là tác nhân gây hư hại bên trong một cách nhanh chóng, đòi hỏi đồng hồ phải được sửa chữa.

v

François Borgel - nhà sản xuất vỏ đồng hồ dành được hai bằng sáng chế vào năm 1891 và 1903 cho hai loại đồng hồ nhỏ khác nhau với lớp vỏ có bộ phận ren vặn.

Có một thực tế là những chiếc đồng hồ với lớp vỏ lớn không tạo ra một tương lai cho ngành đồng hồ, đặc biệt là cho người tiêu dùng bên ngoài quân đội. Có một giải pháp thực tế và bền bỉ hơn, cũng là duy nhất. Đó là tích hợp việc chống thấm nước vào lớp vỏ đồng hồ.

François Borgel - nhà sản xuất vỏ đồng hồ giành được hai bằng sáng chế vào năm 1891 và 1903 cho hai loại đồng hồ nhỏ khác nhau với lớp vỏ có bộ phận ren vặn. Nói về bằng sáng chế cấp năm 1903, gồm một vòng tròn bao xung quanh bộ máy và vành bezel, kiểu vỏ này có nút vặn được cố định bằng ren vặn vào trong. Kết quả là ta có một vòng đệm kín hơn mà không cần phải sử dụng một nắp đậy hàn kín bên ngoài như trước.

Perregaux-Perret-pre-role

Bằng sáng chế với ý tưởng đầu tiên về nút vặn chống thấm nước thuộc về Paul Perregaux và Georges Perret.

Sáng chế trên đã tạo ra một bước tiến lớn, những nhà sản xuất đồng hồ như IWC, Longines đã sử dụng vỏ đồng hồ của hãng Borgel cho một số đồng hồ của họ, bên cạnh đó còn một vấn đề quan trọng vẫn chưa được giải quyết: vòng đệm làm kín chỗ nút vặn.

Hơi nước và bụi vẫn còn có thể được tìm thấy trong bộ máy, mặc dù tốc độ chậm hơn và ít hơn trước, nhờ vào thiết kế vỏ đồng hồ như đã nói ở trên. Bằng sáng chế với ý tưởng đầu tiên về nút vặn chống thấm nước thuộc về Paul Perregaux và Georges Perret. Vào tháng 10 năm 1925, họ ứng dụng công nghệ từ bằng sáng chế trên vào nút vặn xoắn ốc. Cũng giống như các trường hợp phát triển mang tính đột phá khác, thiết kế của hai nhà thiết kế đồng hồ trên cũng cho thấy một số khuyết điểm.

Hans Wilsdorf - người sáng lập và sau đó là giám đốc của Rolex, đã nhìn thấy tiềm năng từ nhà sáng lập Perragaux và Perret khi ông nhận ra rằng ý tưởng của cặp đôi trên có thể thực sự tạo ra chiếc đồng hồ chống nước đầu tiên. Ông nhanh chóng mua bản quyền và áp dụng ở Mỹ, Anh và Đức vào năm 1926-1927.  Bằng sáng chế CH 120848 - một trong những cải tiến quan trọng trong việc di chuyển vòng đệm làm kín từ bên ngoài vào bên trong bao quanh nút vặn, giúp độ bền được nâng cao hơn.

Patent-Wilsdorf-1926-Octo

Sáng chế của Hans Wilsdorf về thiết kế núm vặn được cải tiến. 

Hơn nữa, các kỹ sư của Rolex và những người làm việc tại CR Spillman SA - nhà cung cấp của Rolex thời đó đã tìm ra giải pháp liên quan đến việc lên dây cho bộ máy khi núm vặn không vặn xoắn ốc. Thành tựu trên được đánh dấu ở số 9 (màu đỏ) và 12 (màu vàng) trong ảnh trên. Thật khó khăn để đánh giá được khi nhìn trên hình ảnh. Một bộ phận với hai phần hình chữ nhật ăn khớp với nút vặn khi được kéo ra, do đó người mang đồng hồ có thể chỉnh thời gian hoàn toàn một cách chủ động.

Rolex kết hợp giữa việc cải tiến núm vặn chống lại các tác nhân làm hỏng lớp vỏ đồng hồ trong một thiết kế mới, là chiếc đồng hồ đầu tiên có độ bền và khả năng chống thấm nước. Oyster là một thành tựu đáng kể, mặc dù vẫn chịu một số hoài nghi từ công chúng. Chúng ta sẽ tập trung vào việc làm thế nào một chiếc đồng hồ trở thành huyền thoại và cách nó làm thay đổi nhận thức của mọi người về đồng hồ kháng nước.

Rolex-Mercedes-Gleitze-Oy

Câu chuyện của cô và chiếc đồng hồ được thảo luận trên trang đầu tiên của tờ báo Daily Mail

Năm 1927 là một cơ hội hoàn hảo để tăng sự xuất công khai, chứng tỏ khả năng của loại đồng hồ này và Wilsdorf lại một lần nữa phản ứng nhanh nhạy. Ông chủ Rolex đã nghĩ ra một cách quảng bá thông qua một người phụ nữ tên là Mercedes Gleitze khi cô có ý định thử thách mình bơi qua eo biển Anh. Vài ngày sau, câu chuyện của cô và chiếc đồng hồ được thảo luận trên trang đầu tiên của tờ báo Daily Mail, mang đến cho công chúng bằng chứng cụ thể đầu tiên về một chiếc đồng hồ không thấm nước.

Bước tiếp theo để tạo ấn tượng sâu sắc hơn nữa, Wilsdorf  đã trưng bày những chiếc đồng hồ Oyster trong bể cá đầy nước tại các cửa hàng, đại lý bán lẻ. Chính nhờ chiến lược phát triển đặc biệt và cách tiếp thị dí dỏm của người sáng lập nhãn hiệu Rolex đã đưa chiếc đồng hồ chống nước bắt đầu hành trình chinh phục thị trường thế giới.

Cartier-Pasha-waterproof-

Pasha de Cartier

Vào những năm 1930, những thương hiệu khác cũng muốn nhận thị phần từ phân khúc thị trường mới này. Trong đó có Cartier - được biết đến như thương hiệu hàng đầu dành cho hoàng gia và là tinh hoa của thế giới. Điều này được minh họa bằng đơn đặt hàng Cartier nhận vào năm 1932, được đặt bởi một vị Pasha của Morroco, với một câu nói huyền thoại, ông mong muốn có một chiếc đồng hồ không thấm nước có thể đeo thường xuyên khi đi bơi.

Cartier đã đáp lại nhu cầu của Pasha: trang bị một vòng đệm làm kín duy nhất xung quanh lớp vỏ đồng hồ và một vòng đệm làm kín ở chỗ núm vặn, với vòng dây đeo nhỏ cố định với vỏ đồng hồ. Từ năm 1943 và sau đó được sản xuất lại vào năm 1985 cho đến ngày nay, dòng đồng hồ này được biết đến với tên gọi Pasha de Cartier - chiếc đồng hồ mang tính biểu tượng hơn là mẫu đồng hồ chống thấm nước đầu tiên.

Vào giữa những năm 20, lặn là một môn dành cho ngành khoa học, quân sự, hay liên quan đến những cuộc phiêu lưu vốn phổ biến nhờ các thiết bị thở đặc biệt được phát triển bởi Yves Le Prieur vào năm 1926 và sau đó là vào năm 1933. Những thiết bị này làm cho việc lặn trở nên dễ dàng hơn, ít nguy hiểm hơn và cho phép duy trì trạng thái dưới nước với thời gian dài hơn ở độ sâu hơn. Vài năm sau đó việc bơi lặn phát triển phổ biến, đây rõ ràng mang đến một cơ hội cho đồng hồ đeo tay phát triển. Và đây cũng là khởi đầu cho sự sáng tạo của hãng đồng hồ Omega.

Có thể thấy, những chiếc Rolex Oyster và Pasha de Cartier (và một số ít khác được biết đến cùng thời cũng là đồng hồ kháng nước) đã thực hiện khá tốt chức năng chống ẩm, cát và một lượng nước nhỏ nhưng điều này trở nên không đáng xem xét nữa khi đòi hỏi về việc lặn khắt khe hơn, độ sâu lớn hơn.

Omega-Marine-1932-reediti

Omega Marine 1932

Chiếc đồng hồ lặn đầu tiên được thiết kế với thách thức lớn hơn mẫu đồng hồ Marine của Omega năm 1932. Là một thiết kế khá hiện đại, đúng như cái tên Marine của mình, Marine trở thành chiếc đồng hồ lặn đầu tiên trên thế giới, là chiếc đồng hồ đầu tiên có thể thực hiện việc lặn sâu đáng kinh ngạc.

Điều gì làm cho chiếc đồng hồ Marine trở nên độc đáo? Cỗ máy này sở hữu bộ vỏ gồm 2 phần có thể tháo lắp linh hoạt, phần trên và dưới liên kết với nhau bởi một bản lề, và một cái khóa giữ chúng kín, cố định trong lớp vỏ sau. Hơn nữa, Marine là chiếc đồng hồ đầu tiên có mặt kính sapphire, đây là bước tiến quan trọng, và loại vật liệu được tin cậy so với những vật liệu khác cùng thời đó.

Sản phẩm được hoàn thành với dây bằng da mà theo Omega tuyên bố có khả năng chống nước muối rất cao. Ý tưởng này đã sẵn sàng cho sự phát triển thêm một bước nữa của Omega, giống như cảm hứng đến từ sự tiếp thị thành công của Rolex, được thiết lập để chứng tỏ khả năng đặc biệt của chiếc đồng hồ Marine thông qua một loạt thách thức mà trước đây là khó khăn không thể tưởng tượng. Vào năm 1936, một cặp đồng hồ Marine của Omega được đặt trong nước nóng 85 độ C vài phút, rồi đến thử thách nhúng chìm chúng nhanh chóng ở độ sâu 70m với nhiệt độ là 5 độ C trong vùng nước lạnh của hồ Geneva trong 30 phút. Khi lấy chúng ra khỏi hai thử thách trên, chúng vẫn hoạt động hoàn hảo và không thấy dấu vết của nước bên trong.

Ba năm sau cuộc thử nghiệm thành công, vào năm 1939, Omega tiết lộ mẫu đồng hồ Omega Standard. Đó là một phiên bản được thiết kế lại từ mẫu đồng hồ năm 1932. Mẫu đồng hồ này đã được sử dụng để tạo ra đồng hồ Marine và có khả năng trở thành bộ sưu tập phổ biến của thương hiệu. Thiết kế vỏ đồng hồ đã trở nên ít phức tạp hơn và giảm được chi phí sản xuất, nhưng vẫn giữ được dạng hình hộp chữ nhật như phiên bản gốc. Để các vòng đệm làm kín giữa kính và vỏ, nhà sản xuất đã sử dụng một miếng đệm cao su, giải pháp này còn được tiếp tục cho đến ngày nay.

Omega-Marine-vintage-ad

Omega Marine

Tiêu chuẩn đầu tiên của dòng Marine Standard là lớp kính sapphire được lắp bên dưới vành bezel. Omega thực hiện lắp đặt mặt số, bộ chuyển động và nút vặn. Thiết kế mới từ cấu trúc này của Omega tạo nên áp lực từ mặt trước vỏ đồng hồ lên mặt sau, ép các phần tử bên trong, làm yếu đi chức năng của các vòng đệm. Điều này làm giảm khả năng kháng nước của dòng Standard xuống mức 2 atmospheres (xấp xỉ 20m), điều này không thể so sánh được với mẫu đồng hồ tiền nhiệm. Với thể hệ tiếp theo, các lớp kính đã được lắp đặt từ phía trên, đó là một quy trình được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay, trong suốt những năm đầu thập niên 40, làm tăng đáng kể khả năng kháng nước.

Nhìn lại những thế hệ đầu tiên của dòng đồng hồ kháng nước, chúng ta có thể kết luận rằng các công ty sản xuất đồng hồ lớn nhất đã phát triển mình từ những vấn đề như nhau: vòng đệm làm kín vỏ, gờ lắp mặt kính và núm vặn. Trong khi họ còn đang cố gắng để có những phát triển mới hiệu quả hơn thì họ cũng không biết là tại thời điểm đó hầu hết các bộ sưu tập đều có các mảnh ghép hữu dụng được sử dụng cho đồng hồ lặn hiện đại.

Hãy khám phá quá trình chuyển đổi và xem thử chính xác việc gì đã dẫn tới việc tạo ra những chiếc đồng hồ lặn ngày nay như chúng ta đã biết trong phần 2 về lịch sử đồng hồ lặn .

Diễn Đàn Từ điển đồng hồ
Bình luận

XEM THÊM


loading